Với mức lạm phát 50% mỗi tháng, giá cả sẽ tăng hơn 100 lần trong một năm nếu tốc độ này tiếp diễn. Vì vậy, siêu lạm phát về bản chất khác biệt hoàn toàn với mức lạm phát vừa phải thường thấy ở hầu hết các nền kinh tế vận hành ổn định.
Trong bối cảnh đầu tư hoặc giao dịch, siêu lạm phát được xem là một ví dụ cực đoan về rủi ro tiền tệ. Khi niềm tin vào đồng tiền nội địa sụp đổ, các hộ gia đình và doanh nghiệp có thể tìm cách chuyển tiền tiết kiệm sang ngoại tệ, tài sản vật chất hoặc gần đây hơn là các tài sản kỹ thuật số như stablecoin và Bitcoin.
Trong hướng dẫn này, bạn sẽ tìm hiểu siêu lạm phát ảnh hưởng như thế nào đến chiến lược đầu tư và các quốc gia hành động ra sao để kiềm chế một cuộc khủng hoảng siêu lạm phát.
Siêu lạm phát thường được định nghĩa là lạm phát vượt 50% mỗi tháng. Với tốc độ đó, giá cả có thể tăng hơn 100 lần trong một năm nếu tỷ lệ này tiếp diễn.
Siêu lạm phát thường bắt nguồn từ sự sụp đổ về tài khóa và tiền tệ, chứ không chỉ đơn giản do nhu cầu tiêu dùng cao. Thâm hụt ngân sách lớn, tài trợ tiền tệ, sản lượng suy giảm và niềm tin sụt giảm có thể củng cố lẫn nhau.
Tiền điện tử có thể cung cấp một phương thức thay thế để nắm giữ hoặc chuyển giao giá trị trong một số cuộc khủng hoảng tiền tệ, nhưng không phải là không có rủi ro. Stablecoin tạo ra rủi ro từ tổ chức phát hành và rủi ro mất neo, trong khi Bitcoin có thể trải qua biến động giá đáng kể.
Định nghĩa được trích dẫn rộng rãi nhất bắt nguồn từ nghiên cứu năm 1956 của nhà kinh tế học Phillip Cagan về lạm phát cực đoan.
Theo định nghĩa của Cagan, lạm phát trên 50% mỗi tháng được xem là siêu lạm phát. Giai đoạn này bắt đầu từ tháng mà lạm phát vượt mức đó so với tháng trước, và kết thúc vào tháng trước khi lạm phát giảm xuống dưới 50% rồi duy trì dưới ngưỡng đó trong ít nhất một năm.
Quy mô của mức tăng này rất khó hình dung nếu chưa tính lãi kép.
Nếu một thứ có giá 100 USD và giá cả tăng 50% mỗi tháng, thứ đó sẽ có giá khoảng 150 USD sau một tháng, 225 USD sau hai tháng và khoảng 12.975 USD sau 12 tháng nếu cùng mức tăng hằng tháng tiếp diễn.
Điều đó tương đương với mức lạm phát tích lũy khoảng 12.875% trong một năm.
Đây là mức rất khác so với lạm phát cao thông thường.
Ví dụ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ vẫn xác định lạm phát PCE hằng năm ở mức 2% là mục tiêu lạm phát dài hạn của Mỹ. Ngưỡng thường được sử dụng cho siêu lạm phát là 50% mỗi tháng, không phải mỗi năm.
Siêu lạm phát hiếm khi chỉ có một nguyên nhân. Hiện tượng này thường phát triển khi nhiều vấn đề bắt đầu củng cố lẫn nhau.
Một chính phủ có thể duy trì mức thâm hụt tài khóa rất lớn trong khi nguồn thu thuế và khả năng tiếp cận các khoản vay truyền thống suy giảm. Nếu ngân hàng trung ương ngày càng tài trợ cho các khoản thâm hụt đó bằng cách tạo tiền, nguồn cung tiền tệ có thể tăng nhanh hơn nhiều so với khả năng sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế. Đây cũng là lúc lạm phát do cầu kéo có thể xuất hiện, bởi hiện tượng này xảy ra khi nhu cầu vượt quá nguồn cung.
Đồng thời, chiến tranh, bất ổn chính trị, lệnh trừng phạt, thiên tai hoặc quản lý kinh tế yếu kém có thể làm giảm sản lượng. Khi đó, nhiều tiền tệ hơn sẽ cạnh tranh để mua ít hàng hóa khả dụng hơn.
Yếu tố cuối cùng thường là sự mất niềm tin vào chính đồng tiền đó.
Khi các hộ gia đình và doanh nghiệp dự đoán tiền tệ sẽ nhanh chóng mất giá, việc nắm giữ tiền mặt ngày càng trở nên tốn kém. Mọi người cố gắng chi tiêu tiền lương ngay lập tức hoặc đổi tiền nội địa sang ngoại tệ và các tài sản khác. Doanh nghiệp và người lao động cũng có thể phản ứng với đồng tiền đang mất giá bằng cách tăng giá và tiền lương, từ đó tiếp tục thúc đẩy lạm phát.
Điều này làm tăng tốc độ lưu thông tiền tệ và có thể khiến lạm phát càng khó kiểm soát hơn.
Vì vậy, vòng xoáy này có thể tự củng cố. Khi đó, thâm hụt tài khóa và việc mở rộng tiền tệ làm tăng nguồn cung tiền; sản lượng giảm làm giảm lượng hàng hóa khả dụng; đồng tiền mất giá làm tăng chi phí nhập khẩu; còn niềm tin suy giảm khiến mọi người loại bỏ đồng tiền nhanh hơn nữa.
Điều quan trọng là việc đơn giản tăng nguồn cung tiền không tự động tạo ra siêu lạm phát. Nới lỏng định lượng và các hình thức mở rộng tiền tệ khác tại các nền kinh tế phát triển đã diễn ra mà không tiến gần đến ngưỡng của Cagan. Đây là một trong những lý do siêu lạm phát hiếm khi xảy ra ở các quốc gia phát triển.
Siêu lạm phát nhìn chung đòi hỏi sự sụp đổ sâu sắc hơn, liên quan đến chính sách tài khóa, uy tín tiền tệ và niềm tin vào đồng tiền.
Hậu quả gây tổn hại nhất không chỉ là giá cả tăng, mà còn là việc tiền tệ suy yếu trong các chức năng thông thường của nó, gồm lưu trữ giá trị và đơn vị tính toán.
Người lao động có thể cố gắng chi tiêu tiền lương ngay lập tức vì việc chờ đợi sẽ làm giảm lượng hàng hóa mà số tiền đó có thể mua được. Mọi người cũng có thể vội vàng thanh toán các nhu yếu phẩm trước khi giá cao hơn làm xói mòn sức mua của tiền lương. Doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc định giá vì hàng tồn kho thay thế có thể đắt hơn đáng kể vào thời điểm cần đặt mua lại. Giá tiêu dùng có thể tăng nhanh đến mức đời sống hằng ngày và việc lập ngân sách thông thường trở nên khó khăn.
Các hợp đồng dài hạn và hoạt động cho vay trở nên khó thực hiện vì không ai biết đồng tiền sẽ có giá trị bao nhiêu khi khoản vay được hoàn trả.
Tiền tiết kiệm bằng tiền mặt và các khoản thanh toán danh nghĩa cố định đặc biệt dễ bị tổn thương. Số dư ngân hàng có thể vẫn giữ nguyên số đơn vị tiền tệ, nhưng sức mua lại giảm mạnh, trong khi giá trị thực của các khoản số dư đó và những khoản thanh toán cố định khác nhanh chóng sụt giảm.
Do đó, ngoại tệ có thể bắt đầu thay thế tiền nội địa trong hoạt động tiết kiệm, hợp đồng hoặc giao dịch hằng ngày. Quá trình này được gọi là thay thế tiền tệ hoặc, khi có liên quan đến USD, là đô la hóa.
Trong trường hợp cực đoan, đồng tiền nội địa có thể gần như không còn thực hiện được các chức năng kinh tế thông thường.
Siêu lạm phát rất hiếm gặp, nhưng một số giai đoạn lịch sử cho thấy quá trình này có thể trở nên cực đoan đến mức nào.
| Giai đoạn | Mức lạm phát đỉnh điểm | Thời gian giá tăng gấp đôi ước tính |
|---|---|---|
| Hungary, tháng 7 năm 1946 | 41,9 triệu tỷ phần trăm mỗi tháng. | 15 giờ |
| Zimbabwe, tháng 11 năm 2008 | 79,6 tỷ% mỗi tháng*(Mức đỉnh của Zimbabwe là ước tính dựa trên dữ liệu tỷ giá hối đoái hàm ý) | 24,7 giờ |
| Đức, tháng 10 năm 1923 | 29.500% mỗi tháng | 3,7 ngày |
Hungary đã trải qua giai đoạn siêu lạm phát nghiêm trọng nhất được ghi nhận sau Thế chiến II.
Vào tháng 7 năm 1946, giá cả tăng với tốc độ ước tính 207% mỗi ngày, nghĩa là tăng gấp đôi khoảng 15 giờ một lần. Tỷ lệ lạm phát hằng tháng đạt đỉnh ở mức khoảng 41,9 triệu tỷ phần trăm.
Đồng pengő cuối cùng trở nên không thể sử dụng và được thay thế bằng đồng forint vào tháng 8 năm 1946.
Hungary là một ví dụ hữu ích vì cho thấy quy mô mà siêu lạm phát có thể đạt tới khi niềm tin vào tiền tệ đã hoàn toàn sụp đổ.
Zimbabwe cung cấp một ví dụ gần đây hơn.
Cuộc khủng hoảng tại quốc gia này phát triển cùng với sự suy giảm kinh tế nghiêm trọng, sản lượng nông nghiệp sụt giảm, chi tiêu chính phủ tăng cao dẫn đến thâm hụt tài khóa lớn và mở rộng tiền tệ nhanh chóng.
Số liệu lạm phát chính thức ngày càng trở nên thiếu tin cậy trong năm 2008. Sau đó, các nhà kinh tế Steve Hanke và Alex Kwok ước tính rằng lạm phát đạt đỉnh ở mức khoảng 79,6 tỷ% mỗi tháng vào giữa tháng 11 năm 2008, tương đương với việc giá cả tăng gấp đôi sau khoảng 24,7 giờ.
Ngoại tệ ngày càng thay thế đồng đô la Zimbabwe trong các giao dịch, và Zimbabwe chính thức cho phép sử dụng hệ thống đa tiền tệ vào năm 2009. Ngân hàng dự trữ Zimbabwe đóng vai trò trung tâm trong quá trình mở rộng tiền tệ đó, và giai đoạn này đã trở thành một cuộc khủng hoảng lạm phát trên diện rộng hơn. Trong những trường hợp nghiêm trọng, các quốc gia đôi khi giới thiệu đồng tiền mới, mặc dù Zimbabwe đã chuyển sang sử dụng ngoại tệ rộng rãi hơn.
Siêu lạm phát của Cộng hòa Weimar trong giai đoạn 1922–1923 xảy ra sau Thế chiến I, trong bối cảnh áp lực tài khóa lớn, nghĩa vụ bồi thường chiến tranh, việc chính phủ in tiền và đồng tiền mất giá nhanh chóng do hoạt động tài trợ tiền tệ quy mô lớn.
Tại đỉnh điểm vào tháng 10 năm 1923, giá cả tăng khoảng 29.500% trong một tháng, tương đương với việc tăng gấp đôi khoảng 3,7 ngày một lần.
Cuộc khủng hoảng kết thúc sau một chương trình ổn định rộng hơn, bao gồm các thay đổi về tài khóa và việc đưa đồng Rentenmark vào lưu thông vào tháng 11 năm 1923.
Các trường hợp này khác nhau về chính trị và kinh tế, nhưng có chung một mô hình quan trọng. Siêu lạm phát gắn liền với sự bất ổn nghiêm trọng về tài khóa và tiền tệ, kết hợp với sự sụp đổ niềm tin vào đồng tiền. Giai đoạn này vẫn là một trong những ví dụ quan trọng nhất về siêu lạm phát trong lịch sử kinh tế.
Chỉ tăng lãi suất thường là chưa đủ một khi siêu lạm phát đã hình thành.
Thông thường, vấn đề tài khóa nền tảng cũng phải được giải quyết.
Chính phủ có thể giảm thâm hụt, ngừng phụ thuộc vào tài trợ tiền tệ và tái cơ cấu tài chính. Hỗ trợ bên ngoài từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế đôi khi có thể đi kèm với các chương trình ổn định. Cơ quan tiền tệ cũng phải thuyết phục các hộ gia đình và doanh nghiệp rằng nguồn cung tiền sẽ không còn tăng mất kiểm soát.
Một số quốc gia giới thiệu đồng tiền mới như một phần của quá trình ổn định. Các quốc gia khác áp dụng hoặc cho phép sử dụng ngoại tệ.
Mục tiêu cuối cùng vẫn là khôi phục niềm tin rằng tiền tệ sẽ duy trì đủ sức mua để hoạt động bình thường trở lại.
Uy tín đó đóng vai trò then chốt. Việc đổi tên đồng tiền hoặc xóa các số 0 trên tiền giấy sẽ không mang lại nhiều hiệu quả nếu chính phủ tiếp tục tài trợ cho các khoản thâm hụt không bền vững theo cách cũ. Ngay cả các nhà lập pháp và ngân hàng trung ương nỗ lực hết sức cũng có thể thất bại nếu hoạt động tài trợ tài khóa vẫn không bền vững.
Một trong những quan niệm sai lầm lớn nhất là xem mọi giai đoạn lạm phát cao bất thường đều là siêu lạm phát.
Điều đó không đúng.
Một nền kinh tế trải qua lạm phát hằng năm ở mức 20%, 50% hoặc thậm chí 100% có thể đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhưng vẫn chưa đáp ứng định nghĩa thông thường về siêu lạm phát.
Để so sánh, ngưỡng của Cagan là 50% trong một tháng.
Sự khác biệt này rất quan trọng khi thảo luận về các quốc gia như Argentina hoặc những giai đoạn lạm phát tăng cao tại các nền kinh tế phát triển. Tỷ lệ lạm phát của Argentina đạt 143% vào tháng 11 năm 2023 nhưng vẫn chưa đáp ứng định nghĩa thông thường về siêu lạm phát. Lạm phát cao có thể làm giảm nghiêm trọng sức mua mà không đồng nghĩa với việc hệ thống tiền tệ đang tiến gần đến sự sụp đổ theo kiểu Weimar hoặc Zimbabwe.
Lạm phát tăng dai dẳng vẫn có thể gây ra tổn hại xã hội lớn. Vào năm 2022, 55% trẻ em ở Argentina sống dưới mức nghèo.
Cũng không có quy tắc đáng tin cậy nào cho thấy lạm phát hằng năm trên 20% hoặc 30% cuối cùng sẽ chuyển thành siêu lạm phát. Hướng đi của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, niềm tin vào đồng tiền, dự trữ ngoại hối và sản lượng kinh tế quan trọng hơn một ngưỡng cảnh báo tùy ý.
Về lý thuyết là có thể, nhưng siêu lạm phát trong lịch sử thường xảy ra trong những điều kiện cực đoan hơn nhiều so với một chu kỳ lạm phát thông thường. Siêu lạm phát cũng xảy ra thường xuyên hơn ở các hệ thống tiền tệ và tài khóa yếu hơn so với các quốc gia phát triển.
Các nền kinh tế phát triển thường có thị trường vốn sâu rộng hơn, khả năng thu thuế tốt hơn, các thể chế tiền tệ đáng tin cậy hơn và khả năng vay vốn lớn hơn trên những thị trường tài chính vận hành ổn định.
Ví dụ, Mỹ từng trải qua lạm phát rất cao vào khoảng năm 1980 nhưng chưa bao giờ tiến gần đến siêu lạm phát. Tính đến năm 2026, mục tiêu lạm phát dài hạn của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ vẫn là 2%.
Vì vậy, câu hỏi hữu ích hơn đối với nhà đầu tư không phải là liệu mọi mức tăng của CPI có thể trở thành siêu lạm phát hay không.
Những dấu hiệu cảnh báo liên quan là một sự sụp đổ trên diện rộng hơn nhiều: bất ổn tài khóa kéo dài, tài trợ tiền tệ tăng tốc, đồng tiền mất giá nhanh chóng, uy tín của ngân hàng trung ương suy giảm, dự trữ ngoại hối giảm, sản lượng sụt giảm và việc người dân chuyển khỏi đồng tiền nội địa trên diện rộng. Những điều kiện này có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng siêu lạm phát, mặc dù mức tăng CPI thông thường tại các nền kinh tế phát triển thường không dẫn đến điều đó.
Siêu lạm phát ảnh hưởng khác nhau đến từng loại tài sản.
Tiền mặt nội địa và các khoản nợ có lãi suất cố định đặc biệt dễ bị ảnh hưởng vì giá trị danh nghĩa của chúng không tự động điều chỉnh khi đồng tiền mất sức mua.
Ngoại tệ và các tài sản được định giá bên ngoài hệ thống tiền tệ chịu ảnh hưởng có thể giúp đa dạng hóa rủi ro tiền tệ nội địa.
Các tài sản thực như hàng hóa và bất động sản cũng có thể diễn biến khác với tiền mặt, nhưng không được đảm bảo là công cụ phòng ngừa rủi ro. Một số nhà đầu tư cũng theo dõi giá nguyên liệu thô như một dấu hiệu sớm của áp lực lạm phát. Bất động sản có thể khó bán, chính phủ có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát vốn và doanh nghiệp có thể chịu tổn thất ngay cả khi giá trị danh nghĩa của tài sản tăng.
Các chứng khoán chính phủ liên kết với lạm phát như TIPS của Mỹ có thể bảo vệ trước những thay đổi trong chỉ số lạm phát tham chiếu được quy định, bởi tiền gốc của chúng được điều chỉnh theo Chỉ số giá tiêu dùng. Tuy nhiên, những công cụ này được thiết kế để bảo vệ trước lạm phát trong các thị trường vận hành ổn định, chứ không phải là giải pháp toàn diện cho sự sụp đổ tiền tệ nội địa.
Đối với nhà đầu tư, nguyên tắc rộng hơn là đa dạng hóa tiền tệ và duy trì sự linh hoạt trong các quyết định đầu tư, thay vì tìm kiếm một tài sản luôn tăng giá trong thời kỳ lạm phát.
Tiền điện tử tạo ra một lựa chọn tương đối mới, vốn chưa tồn tại trong những giai đoạn lịch sử như Đức thời Weimar hoặc Hungary sau chiến tranh.
Một người có quyền truy cập internet về mặt lý thuyết có thể nắm giữ và chuyển giao giá trị bên ngoài hệ thống ngân hàng nội địa thông qua các tài sản kỹ thuật số.
Tuy nhiên, Bitcoin và stablecoin giải quyết những vấn đề khác nhau.
Bitcoin có lịch phát hành được định trước và nguồn cung tối đa là 21 triệu BTC. Điều này khiến Bitcoin khác biệt về bản chất so với một loại tiền pháp định nội địa, vốn có nguồn cung có thể được cơ quan tiền tệ mở rộng.
Điều đó không biến Bitcoin thành một kho lưu trữ sức mua ổn định trong các giai đoạn ngắn. BTC có thể trải qua những đợt sụt giảm lớn, vì vậy người chuyển tiền tiết kiệm từ một đồng tiền đang sụp đổ sang Bitcoin sẽ đánh đổi rủi ro mất giá tiền tệ để đối mặt với biến động đáng kể của thị trường tiền điện tử.
Các stablecoin được bảo chứng bằng USD như USDT và USDC phục vụ một mục đích khác. Mục tiêu của chúng là duy trì giá trị gần với USD, qua đó có thể hữu ích cho những người muốn tiếp cận giá trị kỹ thuật số gắn với USD, thực hiện chuyển tiền hoặc thanh toán khi khả năng tiếp cận USD vật chất hay dịch vụ ngân hàng USD truyền thống bị hạn chế.
Stablecoin cũng tạo ra các rủi ro riêng, bao gồm rủi ro từ tổ chức phát hành, dự trữ, lưu ký, pháp lý và mất neo.
Vì lý do này, việc mức độ sử dụng tiền điện tử tăng lên trong một cuộc khủng hoảng tiền tệ không nên tự động được hiểu là bằng chứng cho thấy Bitcoin hoặc stablecoin là công cụ phòng ngừa lạm phát hoàn hảo. Giá trị thực tế của chúng có thể đến từ khả năng thay thế tiền tệ, tính dễ di chuyển và khả năng tiếp cận giá trị định danh bằng USD.
Đối với nhà giao dịch tiền điện tử, bản thân siêu lạm phát thường kém hữu ích hơn với tư cách là một tín hiệu giao dịch so với sự suy thoái kinh tế vĩ mô dẫn đến hiện tượng này.
Các chỉ báo quan trọng bao gồm:
lạm phát hằng tháng tăng tốc và giá cả tăng nhanh;
việc giá cả có tăng gấp đôi trong những khoảng thời gian ngắn bất thường hay không, bởi điều đó cho thấy tình trạng bất ổn đang leo thang;
đồng tiền nội địa mất giá nhanh chóng;
hoạt động tài trợ thâm hụt chính phủ của ngân hàng trung ương mở rộng;
dự trữ ngoại hối sụt giảm;
chi phí vay của chính phủ tăng;
các biện pháp kiểm soát vốn hoặc hạn chế ngoại tệ;
việc sử dụng ngoại tệ hoặc đô la kỹ thuật số ngày càng tăng;
và diễn biến của giá nguyên liệu thô và chi phí nhập khẩu, những yếu tố có thể báo hiệu áp lực lạm phát trên diện rộng.
Dữ liệu thị trường tiền điện tử có thể bổ sung thêm một lớp thông tin.
Nhu cầu nội địa đối với USDT, USDC hoặc BTC tăng mạnh so với đồng tiền đang suy yếu có thể cho thấy nhu cầu ngày càng lớn đối với các lựa chọn thay thế tiền nội địa. Tuy nhiên, hoạt động đó nên được phân tích cùng với tỷ giá hối đoái, lạm phát, chính sách tiền tệ và các biện pháp kiểm soát vốn, thay vì được xem là bằng chứng độc lập về siêu lạm phát.
Người dùng Gate cũng có thể so sánh các thị trường tiền điện tử, stablecoin và giá tài sản định giá bằng tiền pháp định khi phân tích cách những thay đổi trong điều kiện tiền tệ đang tác động đến hành vi thị trường.
Siêu lạm phát không đơn giản là lạm phát rất cao. Theo định nghĩa Cagan được sử dụng rộng rãi, siêu lạm phát bắt đầu khi lạm phát hằng tháng vượt 50%, một tốc độ có thể khiến giá cả tăng hơn 100 lần trong một năm nếu tiếp diễn.
Các giai đoạn lịch sử như Hungary, Zimbabwe và Đức thời Weimar cho thấy siêu lạm phát thường xuất hiện từ sự kết hợp giữa các vấn đề tài khóa nghiêm trọng, mở rộng tiền tệ nhanh chóng, gián đoạn kinh tế và cuối cùng là sự sụp đổ niềm tin vào đồng tiền nội địa.
Tiền điện tử bổ sung một khía cạnh hiện đại cho quá trình này. Bitcoin cung cấp một tài sản có lịch phát hành tiền tệ được định trước, trong khi stablecoin có thể mang lại khả năng tiếp cận kỹ thuật số với giá trị ngoại tệ. Cả hai đều không loại bỏ rủi ro, nhưng có thể trở nên đáng chú ý hơn khi mọi người bắt đầu tìm kiếm các lựa chọn thay thế cho đồng tiền nội địa bất ổn.
Vì vậy, bài học hữu ích đối với nhà đầu tư và nhà giao dịch tiền điện tử không chỉ là cố gắng dự đoán đợt siêu lạm phát tiếp theo. Việc hiểu về lạm phát, niềm tin vào tiền tệ, tài trợ tiền tệ và thay thế tiền tệ sẽ cung cấp một khung phân tích để nhận biết khi rủi ro tiền tệ ngày càng trở nên quan trọng.
Không, nếu áp dụng định nghĩa Cagan thông thường. Siêu lạm phát đề cập đến mức lạm phát vượt 50% mỗi tháng, nghiêm trọng hơn nhiều so với lạm phát hằng năm 100%.
Hungary đã trải qua đợt siêu lạm phát nghiêm trọng nhất từng được ghi nhận vào năm 1946. Tại đỉnh điểm vào tháng 7, giá cả tăng với tốc độ ước tính 207% mỗi ngày và tăng gấp đôi khoảng 15 giờ một lần.
Nguồn cung tối đa cố định của Bitcoin khiến tài sản này có cấu trúc khác với một loại tiền pháp định đang được mở rộng nhanh chóng, nhưng BTC vẫn có mức biến động rất cao. Vì vậy, không nên mô tả Bitcoin là công cụ phòng ngừa siêu lạm phát được đảm bảo.
Stablecoin liên kết với USD có thể cung cấp khả năng tiếp cận kỹ thuật số với giá trị định danh bằng USD tại những nơi đồng tiền nội địa đang mất giá hoặc khả năng tiếp cận USD truyền thống bị hạn chế. Tuy nhiên, stablecoin vẫn chịu rủi ro từ tổ chức phát hành, dự trữ, lưu ký, pháp lý và mất neo.
Quá trình ổn định thành công thường đòi hỏi khôi phục uy tín tài khóa và tiền tệ, đồng thời chấm dứt vòng phản hồi trong đó giá cả tăng và đồng tiền mất giá làm suy yếu niềm tin. Các biện pháp có thể bao gồm giảm thâm hụt tài khóa, chấm dứt hoạt động tài trợ tiền tệ quá mức và trong một số trường hợp, giới thiệu đồng tiền mới, cho phép sử dụng ngoại tệ rộng rãi hơn hoặc dựa vào hỗ trợ bên ngoài.
* Đầu tư có rủi ro, phải thận trọng khi tham gia thị trường. Thông tin không nhằm mục đích và không cấu thành lời khuyên tài chính hay bất kỳ đề xuất nào khác thuộc bất kỳ hình thức nào được cung cấp hoặc xác nhận bởi Gate.
* Không được phép sao chép, truyền tải hoặc đạo nhái bài viết này mà không có sự cho phép của Gate. Vi phạm là hành vi vi phạm Luật Bản quyền và có thể phải chịu sự xử lý theo pháp luật.





